Từ khoá: phdtdn, quản trị kinh doanh, quản trị chiến lược, chiến lược, khái niệm chiến lược, quản trị marketing, marketing, phd tdn
“Chiến lược” là thuật ngữ không chỉ được dùng trong lĩnh vực quân sự từ xa xưa mà nay đã được sử dụng trong mọi lĩnh vực chính trị, kinh tế, xã hội ở tầm quốc gia và quốc tế.
Hiện nay việc xây dựng, thực hiện chiến lược phát triển thường chủ yếu ở các cơ quan đảng, chính quyền, các ngành, các cấp và các đoàn thể trong tầm nhìn 30-50 năm.
Các doanh nghiệp, ngân hàng thương mại khi công khai trên mạng thường có một trang ghi ngắn gọn các tuyên bố chiến lược với sứ mệnh, tầm nhìn trên web-site/trang tin điện tử của tổ chức như một thủ tục không thể thiếu.
Tuy nhiên cũng có những quan niệm khác nhau về chiến lược. Tuyên bố chiến lược, tầm nhìn, sứ mệnh gần như kế hoạch nhiệm vụ trong một giai đoạn của tổ chức. Mục tiêu chiến lược thường là những mục tiêu theo từng giai đoạn mà chưa khẳng định được mục tiêu tối thượng của doanh nghiệp theo tầm nhìn chiến lược lâu dài của nó. Thậm chí thuật ngữ chiến lược được một số người có trách nhiệm sử dụng thường xuyên gắn với việc làm sự vụ hàng ngày của tổ chức hoặc cá nhân.
Từ thực tế trên đây, có ý kiến cho rằng chỉ có các nước tiên tiến, quân đội và các doanh nghiệp lớn, doanh nghiệp toàn cầu mới xây dựng chiến lược trong tầm nhìn dài hạn tới hàng trăm năm. Điều đó có phần đúng với một số nước Âu – Mỹ và các nước hàng đầu khác. Thể hiện rõ từ xa xưa bằng những hiệp ước tô giới của một số nước và một số hợp đồng thuê đất của doanh nghiệp ở nước ngoài hiện nay có thời hạn tới 99 năm. So với lịch sử nước Mỹ hơn năm trăm năm thì thời hạn đó là tương đối dài.
Nhưng quan niệm đó là chưa đúng đối với Việt Nam. Những tư tưởng chiến lược của người Việt từ thời Vua Lộc Tục Kinh Dương Vương[1] dựng nước tiếp theo là Lạc Long Quân[2] -Âu Cơ đến nay nhân dân ta đã, đang và sẽ tiếp tục thực hiện. Tạm gác lại yếu tố thần thánh hoá tổ tiên, thì người Việt là những Chiến lược gia hàng đầu thế giới; chẳng hạn trên một số lĩnh vực sau:
1. Chiến lược dựng nước và giữ nước
Người Việt xây dựng quốc gia hướng biển, mở mang bờ cõi luôn gắn chặt đất liền với biển đảo như hai mặt của đồng tiền vàng.
Qua năm nghìn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc có thể rút ra một số khái quát sau:
Tầm nhìn chiến lược là vượt qua mọi thời đại.
Sứ mệnh là “Xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, mở nền thái bình muôn thuở”.
Mục tiêu chiến lược là “Độc lập tự do cho tổ quốc, hạnh phúc của nhân dân”.
Nước lấy dân làm gốc, nhân dân là chủ nhân thực sự của đất nước. Bao gồm chiến lược “chiến tranh nhân dân”, “quốc phòng toàn dân”, “ngụ binh ư nông”; “trường kỳ kháng chiến”, “lấy yếu thắng mạnh lấy ít địch nhiều”, “dĩ bất biến ứng vạn biến”. Đưa “chiến tranh nhân dân”, “chiến tranh du kích” lên thành nghệ thuật quân sự đỉnh cao của thế giới.
Năm mươi người con theo Quốc Mẫu Âu Cơ lên rừng trấn giữ đất liền, năm mươi người con theo Vua cha Lạc Long Quân xuống biển mở mang lãnh hải biển đảo đã nói lên tầm nhìn về lãnh thổ, lãnh hải sâu xa như thế nào. Cách đây năm trăm năm Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm[3] đã khẳng định lại tư tưởng đó trong bài Cự ngao đới sơn: “Biển Đông vạn dặm dang tay giữ, Nước Việt muôn năm vững trị bình”. Vì vậy Việt Nam mới có hàng ngàn vạn hòn đảo với hàng chục quần đảo từ Hạ Long, Bái Tử Long, Hoàng Sa Trường Sa đến Phú Quốc, thế phong thuỷ như rồng chầu hổ phục canh giữ hàng triệu km2 đại dương, bảo vệ Tổ quốc.
Lịch sử Trung Quốc là lịch sử của các cuộc xâm lược thôn tính các nước láng giềng, bao gồm lãnh thổ của người Bách Việt. Qua đó tự ảo tưởng về sức mạnh vô biên coi mình là trung tâm của thiên hạ. Thế kỷ 19, sau các cuộc chiến tranh, Trung Quốc đầu hàng và nhượng quyền cai trị một phần lãnh thổ, biển đảo quan trọng trở thành thuộc địa, tô giới của các đế quốc, kéo dài đến ngày nay. Khi Trung Quốc nhận ra họ đang bị vây hãm bởi các “vành đai lửa” của các chuỗi đảo đồng minh của Mỹ và họ sẽ không có đường ra đại dương, đó thật là ác mộng. Năm 1956, 1974, 1988 Trung Quốc lợi dụng thời thế để cưỡng chiếm biển đảo của Việt Nam. Đồng thời với việc vẽ ra đường lưỡi bò để biến Biển Đông thành ao nhà và vẽ ra dự án tham vọng “một vành đai một con đường” để hiện thực hoá giấc mộng Trung Hoa. Điều này cho thấy Trung Quốc đã chuyển từ “ác mộng” sang “mộng du” với chiếc bánh vẽ “Trung Hoa mộng” ngoạn mục như thế nào. Trung Quốc không chỉ ảo tưởng về sức mạnh của mình mà còn tự lừa dối mình và cả thế giới về sức mạnh quân sự và nền kinh tế lớn thứ Hai thế giới. Trung Quốc không chỉ muốn xâm chiếm từng quốc gia nhỏ bé mà còn muốn chiếm trọn thế giới chỉ bằng mấy nét vẽ nguệch ngoạc trên bản đồ thế giới, vài chữ dự án "bẫy nợ" cùng với các "chiến lang" và khoe cơ bắp.
Nước Mỹ hùng mạnh vậy nhưng chỉ mới có tuyên ngôn độc lập từ 1776. Mỹ đánh đâu thắng đó (ngoại trừ thua Việt Nam) đặc biệt là chiến tích làm tan rã Liên Xô và hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu. Các chiến lược gia Mỹ đã nhận ra Trung Quốc mới là hiểm hoạ trực tiếp của Hoa Kỳ. Dẫn đến chiến lược “xoay trục sang Châu Á”, củng cố chuỗi ngọc trai là các chuỗi đảo thân Mỹ nhằm khống chế Trung Quốc.
Từ khi Đế Nghi cai trị phương Bắc và Lộc Tục dựng nước Xích Quỷ ở phương Nam lấy sông Dương Tử làm biên giới tự nhiên thì chúng ta đã có tuyên ngôn độc lập qua lời nguyền: “Bắc Nam không xâm phạm nhau”. Tuyên ngôn độc lập được khẳng định lại nhiều lần như bài thơ Nam Quốc sơn hà của Lý Thường Kiệt[4], Bình Ngô đại cáo của Nguyễn Trãi[5] và Tuyên ngôn độc lập của Hồ Chủ tịch.
Như vậy lịch sử Hoa Kỳ với tư tưởng chiến lược thiên tài của họ, hay chiến lược cướp biển trong mấy chục năm qua của Trung Quốc ví như chưa bằng cái nháy mắt của người Việt. So thế mới thấy Hoa Kỳ, Trung Quốc cũng chỉ là những cậu bé lớn xác so với chiến lược gia Việt Nam.
2. Chiến lược ngoại giao
Chiến lược đối ngoại gắn chặt và là sự kế thừa phát triển từ chiến lược dựng nước và giữ nước trong lĩnh vực ngoại giao. Đó là “ngoại giao nhân dân”, “vừa đánh vừa đàm”, “trong Đế ngoài Vương”, “lấy ngòi bút thay cho binh giáp”. “Lấy đại nghĩa để thắng hung tàn, lấy trí nhân để thay cường bạo”, lấy hoà hiếu với các nước để “mở nền thái bình muôn thuở”. Dĩ bất biến ứng vạn biến; chiến lược ngoại giao văn hoá, mềm dẻo thiên biến vạn hoá nhưng không rời mục tiêu chiến lược là “hoà bình độc lập dân tộc hạnh phúc cho nhân dân”. Đỉnh cao là nghệ thuật ngoại giao thời đại Hồ Chí Minh vượt qua vòng kiềm toả của hàng chục nước đế quốc xâm lược và cả áp lực của các nước anh em vì những lợi ích riêng của họ. Chiến thắng trong các cuộc đàm phán marathon giành thắng lợi, bảo vệ chủ quyền độc lập tự do, hoà bình cho dân tộc. Đến nay Việt Nam có quan hệ với 189/193 quốc gia thành viên Liên hợp Quốc[6]. Việt Nam trở thành người bạn tin cậy thuỷ chung của các nước, các dân tộc trên thế giới. Điều này hoàn toàn trái ngược với chiến lược “ngoại giao pháp hạm” của Mỹ và phương Tây, càng khác biệt với “ngoại giao chiến lang” của Trung Quốc.
Ngày nay chúng ta tiếp tục chiến lược đối ngoại của tổ tiên, cùng các cựu thù, gác lại quá khứ, hướng tới tương lai, xây dựng đất nước ngày càng hùng cường. Việt Nam trở thành biểu tượng của khát vọng tự do hoà bình, ngọn cờ giải phóng dân tộc, mang lại hạnh phúc cho nhân dân. Đó là nguồn cảm hứng, cổ vũ phong trào giải phóng các dân tộc bị áp bức và cùng nhân dân tiến bộ trên toàn thế giới chung tay xây dựng và bảo vệ hoà bình cho khu vực và toàn nhân loại.
3. Chiến lược xây dựng nền văn hoá dân tộc
Chiến lược xây dựng nền văn hoá dân tộc được kế thừa phát triển trên cơ sở chiến lược dựng nước và giữ nước, bao gồm chiến lược con người với tính nhân văn cao cả của người Việt.
Chiến lược văn hoá cũng nhằm thực hiện mục tiêu tối thượng là độc lập tự do của dân tộc, hạnh phúc cho nhân dân.
Xưng nền văn hiến kể từ nền văn minh buổi đầu dựng nước, văn hoá Đông Sơn tiếp nối và đỉnh cao toả sáng của văn minh thời đại Hồ Chí Minh nền văn hoá của tương lai. Xây nền độc lập về văn hoá để dựng nước và giữ nước, đó là vũ khí, sức mạnh vô song của người Việt, “chở bao nhiêu đạo thuyền không khẳm-đâm mấy thàng gian bút chẳng tà”. Đó là nền văn hoá sau khi chiến thắng quân thù thì “Hoàn gươm thần ca khải hoàn-Vung bút thánh tả thiên thanh”. Đây cũng là lý do tại sao bị Bắc thuộc gần một nghìn năm, Pháp thuộc một trăm năm mà người Việt không bị đồng hoá, ngược lại, kẻ xâm lược thắng trận lại bị đồng hoá bởi nền văn hoá của người Việt. Đó chỉ có thể là một nền văn minh rực rỡ mới có thể khuất phục được những kẻ xâm lăng tàn bạo. Duy nhất trên thế giới chỉ Việt Nam mới tạo nên “Thời đại Đồ Nhôm” đau thương mà oanh liệt, đó là chiến thắng “Điện Biên Phủ trên không” tại bầu trời Hà Nội tiêu diệt B52 của Đế quốc Mỹ. Di sản văn hoá vật thể và phi vật thể khổng lồ, phong phú. Người Việt có những anh hùng dân tộc-danh nhân văn hoá thế giới như Hồ Chí Minh, Nguyễn Trãi; Đại thi hào Nguyễn Du; Chu Văn An người thầy của mọi thời đại, nhà giáo lỗi lạc đã được Unesco vinh danh.
Việt Nam có vị trí địa chính trị đặc biệt nằm trên đường giao thương đông tây-nam bắc. Do đó luôn bị các nước nhòm ngó xâm lược, nhưng cũng là “bến mơ”, điểm bắt đầu, điểm đến của các dòng văn hoá toàn thế giới du nhập vào nước ta. Dân tộc Việt có khả năng “miễn dịch” cao với “văn hoá độc hại” của quân xâm lược và văn hoá ngoại lai nói chung. Nhưng cũng tiếp biến rất nhanh những tinh hoa văn hoá tiên tiến, nhân văn của nhân loại làm giàu cho nền văn hoá vốn đã rất phong phú đa dạng của 54 dân tộc anh em sống chung đất nước.
Đất nước với non sông biển trời hùng vĩ với ngàn vạn hòn đảo trải khắp biển Đông thế tựa rồng cuộn hổ ngồi, đẹp như thiên đường với nền văn hoá đặc sắc làm say đắm lòng người, quyến rũ bạn bè quốc tế. Đất nước sử thi của những thiên thần đang viết tiếp những trang sử oanh liệt của thời đại Hồ Chí Minh để non rồng vàng cất cánh bay lên mãi mãi.
4. Chiến lược chăm sóc sức khoẻ nhân dân
Chiến lược chăm sóc sức khoẻ nhân dân kế thừa và hướng đến thực hiện mục tiêu của chiến lược dựng nước và giữ nước của dân tộc.
Việt Nam gắn với nông nghiệp là chủ đạo; có vị thế địa chính trị đặc biệt nằm trên đường giao thương đông-tây, nam-bắc của thế giới, nên bị các nước xâm lược liên miên; là điểm khởi đầu, điểm đến của con đường hải hành thương mại của thế giới từ thời cổ đại. Do đó dễ bị lây nhiễm nguồn dịch bệnh từ động vật sang người và từ các đội quân xâm lược, các đoàn thương thuyền từ các nước lây truyền bệnh cho người dân. Theo Đại Nam thực lục, từ 1820-1895 có gần 70 trận đại dịch, trung bình hơn một năm xảy ra một trận dịch[7]. “Gặp khi có dịch đậu nghiêm trọng thì cứ mỗi tối trước khi đi ngủ, cha mẹ lấy ngón tay giữa nhúng dầu mè mà xoa xát vào đầu, trán, gáy, lưng, eo lưng, hai cổ tay chân của trẻ rồi cho trẻ đi ngủ.” (Lê Hữu Trác 1993, tập 3: 380)[8].Vắc-xin được nhà vua cho người tìm cách mang về và sử dụng tại Việt Nam từ thời Minh Mạng[9].
Nhân dân ta phát triển y học dân tộc, đông tây y kết hợp chăm sóc sức khoẻ nhân dân với phương châm phòng bệnh hơn chữa bệnh. Đó là nền y học nhân dân; thày giáo, văn sỹ, các quan triều đình cũng là thày thuốc của dân. Thậm chí mỗi người dân cũng tự biết, trồng những cây lá trong vườn nhà dùng để chữa bệnh khi trái gió trở trời.
Phi công Mỹ lái máy bay oanh tạc Bắc Việt đều có bùa hộ mệnh bất ly thân là “cờ xin ăn”[10] ghi bằng 14 thứ tiếng để cầu xin cứu giúp khi bị bắn rơi phải nhảy dù xuống miền Bắc. Ngược lại, người lính Bác Hồ biết tìm cây lá làm thuốc tự chữa trị cho mình khi mắc bệnh tật hoặc bị thương và cây lá ăn được để sinh tồn và tiếp tục chiến đấu dù chỉ có một mình giữa đại ngàn Trường Sơn.
Chống dịch như chống giặc, chủ động phòng dịch, thần tốc dập dịch là chiến lược, chiến thuật đang phát huy hiệu quả đưa Việt Nam thành điểm sáng trong cuộc chiến với dịch bệnh ngày nay. Sau mỗi trận dịch bệnh, người Việt lại tái thiết đất nước, tăng khả năng tự miễn dịch và mạnh mẽ hơn bao giờ hết.
Người Việt không chỉ giỏi đánh giặc mà còn kiên cường, đoàn kết trong phòng dập dịch. Bộ đội công an làm nhiệm vụ quên mình cứu dân, giữ nước. Những thiên thần áo trắng ngành y ngày đêm giành giật cuộc sống người dân khỏi bàn tay tử thần. Không phân biệt giàu nghèo địa vị, cả dân tộc hoá thành một khối, mỗi người dân là một chiến sỹ tự cứu mình cứu nước vượt qua đại dịch của nhân loại. Người Việt đang viết tiếp trang sử vàng trong cuộc chiến sinh học trường kỳ và sẽ tiếp tục chiến thắng dịch bệnh như đã từng chiến thắng bất cứ kẻ thù nào trong lịch sử.
5. Chiến lược giao thương kinh tế
Người Việt đã phát triển chiến lược giao thương kinh tế từ cổ xưa. Phát triển trên cơ sở tư tưởng chiến lược dựng nước và giữ nước.
Phát triển giao thương đường thuỷ nhất là đường biển tạo nên một loạt các thương cảng cổ Việt Nam từ thế kỷ 7 trước công nguyên[11]. Đó là một loạt các thương cảng trải dài trên các sông lớn như sông Hồng (thứ nhất Kinh Kỳ, thứ nhì Phố Hiến) và dọc bờ biển Việt Nam từ Vân Đồn đến Hội An, Sài Gòn, Phú Quốc. điều này đã được khẳng địch qua hoa văn các thương thuyền, chiến thuyền của người Việt cổ tên các trống đồng Đông Sơn[12] từ mấy nghìn năm qua. Trước khi Việt Nam được biết đến với tư cách là một quốc gia thì đã được thế giới biết đến qua những thương cảng quốc tế sầm uất đô hội, là điểm khởi đầu và cũng là điểm đến của những con đường tơ lụa trên biển. Eratosthene[13] (275-195 trước công nguyên) đã viết sách, vẽ bản đồ trong đó nói đến Đông Dương, Long Biên (Hà Nội). Điều này là hoàn toàn phù hợp với chiến lược biển của người Việt cổ.
Người Việt đi thuyền trên sông nước với những con thuyền nhỏ mà tài giỏi đến mức các thuỷ thủ, thuyền trưởng của châu Âu khi gặp họ trong bão biển cũng phải khâm phục. Chính vì vậy mới có thể chinh phục Hoàng Sa, Trường Sa và hàng vạn đảo xa, khai thác báu vật và hải sản đại dương, bảo vệ tổ quốc.
Chiến lược này đang được phát huy trở thành đỉnh cao lịch sử trong quan hệ giao thương quốc tế của nước ta. Việt Nam có hiệp định tự do thương mại với toàn bộ các cường quốc kinh tế thế giới và với hầu hết các quốc gia và vùng lãnh thổ. Điều này các nước khác trên thế giới và chính các cường quốc kinh tế hàng đầu cũng chưa làm được.
Ngày nay chúng ta không chỉ có giao thương đường thuỷ mà còn có đường bộ, đường sắt, đường hàng không với công nghệ hiện đại. Không chỉ đang là điểm đến thu hút đầu tư, trở thành công xưởng thế giới. Việt Nam còn tham gia cung cấp các giá trị gia tăng vượt trội trên các lĩnh vực sáng tạo sản phẩm dịch vụ công nghệ hàng đầu thế giới. Không chỉ có các sản phẩm nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy hải sản; tiểu thủ công nghiệp; các sản phẩm công nghệ đỉnh cao mà còn các dịch vụ du lịch văn hoá nghỉ dưỡng chữa bệnh, điểm đến một đất nước đáng sống của thế giới.
6. Cả dân tộc ta qua hàng nghìn đời dốc toàn lực theo đuổi thực hiện chiến lược
Lịch sử của Việt Nam là lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước hoà hợp với thiên nhiên, tự lực tự cường về chính trị kinh tế văn hoá xã hội nhằm mục đích tối thượng là độc lập-tự do-hạnh phúc con người.
Trong lịch sử thế giới nhiều đế quốc đã biến mất; dấn tộc Do Thái kiên cường như vậy nhưng đã thực sự lưu lạc khắp thế giới hai nghìn năm rồi mới giành lại được một phần đất nước mà vẫn chưa thực sự có độc lập vì chưa thể thoát khỏi ô bảo trợ của Mỹ.
Ngược lại, dẫu cho khi bại trận, bị quân xâm lược thôn tính, người Việt chỉ mất chính quyền của triều đình cai trị giai đoạn đó chứ thực sự không mất nước. Các cuộc khởi nghĩa của người Việt không bao giờ ngừng: Vua quan, tướng sỹ có thể bại trận, thậm chí hàng giặc, nhưng nhân dân không bao giờ đầu hàng giặc. Nhân dân mới là người chủ thực sự của đất nước chứ không phải đám quan tham của triều đình bù nhìn, hay chính phủ ngoại bang với các nước chư hầu và đám nguỵ quyền của chúng. Vì vậy người Việt luôn chớp được thời cơ để giành lại độc lập tự do cho Tổ quốc mà đỉnh cao là thời đại Hồ Chí Minh.
Chỉ từ năm 1945 đến nay, với sự giúp đỡ tinh thần và vật chất của Liên Xô, Trung Quốc, các nước anh em và nhân dân yêu chuộng hoà bình thế giới, nhân dân ta đã đánh thắng hàng chục kẻ thù xâm lược. Cụ thể là Việt Nam đã đánh đuổi 4 đế quốc trong số 5 nước thường trực Hội đồng Bảo an Liên Hợp quốc (ngoại trừ đồng minh Liên Xô). Đánh đuổi đế quốc phát xít Nhật (năm 1945); các nước chư hầu gồm Úc, Hàn Quốc, Philippines, Thái Lan cùng chịu chung số phận với chủ Mỹ trong cuộc chiến tranh Việt Nam; tiêu diệt bọn diệt chủng Pôn Pốt của Campuchia. Ta không chỉ giành độc lập tự do cho dân tộc mà còn trợ giúp nhân dân Lào, cứu nhân dân Campuchia, giành độc lập tự do cho hai nước bạn.
Trong khi đó, Trung Quốc tự hào trong cuộc “Chiến tranh kháng Mỹ, viện Triều” sát cánh với Liên Xô cùng với Triều Tiên mà không đánh thắng được liên quân Mỹ-Hàn trong cuộc chiến tranh Triều Tiên[14]. Cuộc chiến tranh đó chưa kết thúc, mới chỉ có hiệp định đình chiến 1953 và vẫn để ngỏ đến nay chưa có lời giải, đem lại muôn vàn đau thương cho các dân tộc trực tiếp tham chiến. Đó cũng là một trong số những lý do mà cả Liên Xô, Trung Quốc và các nước khác sợ Mỹ, trên thế giới duy chỉ có người Việt thắng Mỹ.
Nghiên cứu một số nội dung trên để thấy việc xây dựng chiến lược và kiên trì thực hiện suốt năm nghìn năm của dân tộc Việt Nam vĩ đại nhường nào.
Qua đây có thể rút ra cách tiếp cận Chiến lược theo một góc nhìn như sau:
Chiến lược là tổng hoà tư tưởng, tầm nhìn dài hạn/vượt mọi thời đại, định hướng chỉ đường thực hiện sứ mệnh tối cao của một tổ chức/quốc gia/tổ chức quốc tế với những phương châm, chính sách, mưu lược lâu dài; có thể huy động cao nhất sức mạnh của tổ chức/quốc gia/tổ chức quốc tế và mọi nguồn lực xã hội để thực hiện những giải pháp tối ưu nhằm đạt được mục tiêu tối thượng vì con người, cộng đồng, xã hội và nhân loại.
Chiến lược không chỉ quan trọng trong cuộc chiến xây dựng và bảo vệ tổ quốc mà càng đặc biệt quan trọng trong xây dựng chính phủ kiến tạo, xây dựng thương hiệu quốc gia hiện nay. Chiến lược quản trị kinh doanh bao gồm quản trị nhân sự, quản trị marketing, quản trị công nghệ, quản trị tài chính là những trụ cột cốt lõi trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Chiến lược có ý nghĩa sống còn trong tư tưởng, hành động khởi nghiệp của mỗi người Việt trẻ đi tới tương lai.
Tin xấu là việc xây dựng chiến lược và thực hiện chiến lược phải là nỗ lực của cả cuộc đời bạn và cộng sự.
Tin tốt là nếu có chiến lược đúng và kiên trì thực hiện tốt sẽ đưa bạn tới thành công hơn cả những gì bạn có thể ước mơ, mong đợi.
Hãy mơ ước và hiện thực hoá ước mơ của mình./.
Xin vui lòng cho biết ý kiến của bạn và đăng ký trang tin nhé!
Tags: khái niệm chiến lược, chiến lược dựng nước và giữ nước, chiến lược ngoại giao, chiến lược văn hoá, chiến lược bảo vệ sức khoẻ nhân dân, chiến lược giao thương kinh tế
Tài liệu tham khảo
[1]https://vi.wikipedia.org/wiki/Kinh_Dương_vương
[2]https://vi.wikipedia.org/wiki/Lạc_Long_Quân
[3]https://vi.wikipedia.org/wiki/Nguyễn_Bỉnh_Khiêm
[4]https://vi.wikipedia.org/wiki/Lý_Thường_Kiệt
[5]https://vi.wikipedia.org/wiki/Nguyễn_Trãi
[6]https://vi.wikipedia.org/wiki/Quan_hệ_ngoại_giao_của_Việt_Nam
[7]https://hcmcpv.org.vn/tin-tuc/thanh-tuu-cua-nganh-y-te-nuoc-ta-trong-viec-phong-chong-dich-benh-1491881301
[8]https://tiasang.com.vn/khoa-hoc-cong-nghe/Dau-mua--mot-chu-giai-nho--cua-lich-su-Viet-Nam-11091
[9]http://archives.org.vn/gioi-thieu-tai-lieu-nghiep-vu/vac-xin-va-van-de-tiem-chung-vac-xin-trong-lich-su-viet-nam.htm
[10]http://hoalo.vn/Articles/12/23728/Co-xin-an-cua-Phi-cong-My-trong-chien-tranh-Viet-Nam.html
[11]http://khaocohoc.gov.vn/thuong-cang-co-viet-nam
[12]https://vi.wikipedia.org/wiki/Trống_đồng_Đông_Sơn
[13]https://luocsutocviet.com/2017/05/29/037-lich-su-hang-hai-toc-viet/
[14]https://vi.wikipedia.org/wiki/Chiến_tranh_Triều_Tiên